Showing posts with label Câu chuyện lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Câu chuyện lịch sử. Show all posts

Đình Phú Mỹ

Đình Phú Mỹ ở xã Tự Lập, huyện Mê Linh, Hà Nội, thờ nhị vị tướng quân của Hai Bà Trưng là cặp vợ chồng Hùng Bảo, Trần Nang.
Trong cuốn “Việt thường thị Trưng Vương công thần Bảo Vương Hải bộ chủ phụ đạo đại vương Ngọc phả” do Nguyễn Bính viết vào năm 1572 và Nguyễn Hiền sao lại vào năm 1737 có đoạn nói về vợ chồng Hùng Bảo như sau:
Vào thời Hán Nguyên Đế, ở nước ta, bộ chủ bộ Hải Dương là Hùng Trọng, kết duyên cùng bà Trương Quyền. Hai ông bà sinh hạ được một người con trai đặt tên là Hùng Bảo. Năm Hùng Bảo lên 10 tuổi thì cha là Hùng Trọng, bộ chủ bộ Hải Dương qua đời. An táng cha xong, Hùng Bảo thay cha làm bộ chủ Hải Dương. Đến năm ông 19 tuổi với tài năng, đức độ của mình, các bậc anh hùng, hào kiệt khắp nơi tìm về quy phục. Năm ông 21 tuổi thì mẹ qua đời, ông an táng mẹ cẩn thận. Một năm sau, Hùng Bảo đi tuần du đất nước ngắm cảnh núi sông. Đến huyện Chu Diên, nhân dân bái tạ và lập một cung để ông nghỉ. Bấy giờ huyện tể Chu Diên là Trần Công có con gái là Trần Thị Nương hết sức xinh đẹp, nết na lại tài giỏi. Nàng là bậc hào kiệt trong giới nữ nhi. Trong huyện có một người tên là Đinh Công Dũng vốn là một hào phú, dũng lược và có thế lực muốn dạm hỏi Trần Nương làm vợ, nhưng Trần Công không gả vì đã hứa gả con gái mình cho con trai ông Hùng Trọng. Nay, thấy Hùng Bảo đích thân đến thật xứng đôi, liền gả cho. Hùng Bảo tổ chức lễ cưới Trần Nương. Được tin ấy, Đinh Công Dũng vô cùng tức tối, đem hơn 100 gia binh thân thuộc đến đánh phá đám cưới, cướp lại Trần Nương. Đinh Công Dũng đã bị Hùng Bảo chém chết, đám cưới tiếp tục được tiến hành. Sau đó, Hùng Bảo khao thưởng quân sỹ, dân làng rồi đưa Trần Nương về Hải Dương.
Năm Giáp Ngọ, vua Hán Quang Vũ sai Tô Định sang làm thái thú Giao Châu. Tô Định vô cùng bạo ngược, tàn sát, áp bức dân lành. Bè đảng của Đinh Công Dũng đã cấu kết với giặc Hán, bắt giết Trần Công. Được tin cấp báo, vợ chồng Hùng Bảo, Trần Nương kéo quân về nhưng không kịp. Thương xót cha, Trần Nương đã làm lễ an táng cho cha tại trang Thái Lai (nay là thôn Thái Lai, xã Tiến Thắng) và cho lập một cung ở đó để ngày đêm canh gác mộ phần Trần Công (cung này bây giờ trở thành đền Thái Lai); Hùng Bảo thì đóng cung ở Tuyền Liệt (thuộc thôn Phú Mỹ, xã Tự Lập ngày nay) cách đấy không xa.
Thù nhà, nợ nước chất đầy hai vai, hai vợ chồng Hùng Bảo, Trần Nương đã chiêu dụ hào kiệt, anh tài được hơn 300 người. Đội thị vệ do Trần Nương chỉ huy có 42 nữ tướng tài giỏi. Từ đó, vợ chồng Hùng Bảo, Trần Nương càng nổi tiếng. Các anh hùng, tù trưởng trong vùng đều khâm phục. Bấy giờ trong huyện có hai chị em Bà Trưng dòng dõi Vua Hùng. Trưng Trắc cũng bị giặc giết mất chồng là Thi Sách, nên rất căm thù và đang chiêu tập binh mã để khởi nghĩa. Biết tin vợ chồng Hùng Bảo cùng chí hướng đã mang hịch đến chiêu dụ (hôm ấy là ngày 11-8 năm Canh Tý). Hùng Bảo rất phấn khởi liền tập hợp hết tráng sĩ, gia thần được 500 người và đội quân của Trần Nương gồm 251 nữ binh đến hội quân cùng Bà Trưng. Trưng Nữ cả mừng cho khao thưởng quân sĩ. Phong cho Hùng Bảo làm Tiết chế tiền quân, Trần Nương làm trưởng lĩnh quân trung nữ tốt. Sau đó Trưng Nữ làm lễ tế cáo trời đất, thánh thần rồi chia 2 đạo thủy bộ tiến đánh nghĩa quân Tô Định. Quân Tô Định thua to phải tháo chạy về nước. Nghĩa quân thừa thắng thu lại 65 thành trì trên toàn cõi Nam Bang. Bà Trưng Trắc lên ngôi vua, xưng là Trưng Vương; phong cho em là Trưng Nhị là Bình Khôi công chúa, phong cho Hùng Bảo là Thiên Bảo hộ quốc đại vương, phong cho Trần Nương là Ả Nương hoàng công chúa. Các tướng sĩ khác cũng đều được phong thưởng.
   Đất nước thái bình, Hùng Bảo xin vua cho về cung ấp. Trưng Vương ưng cho, lại ban thưởng cho vợ chồng Hùng Bảo 300 lạng vàng, bạc. Ban cho Hùng Bảo đất Toàn Liệt, ban cho Trần Nương đất Thái Lai làm thực ấp. Lúc sống thì làm cung ấp, lúc chết làm chỗ phụng thờ mãi mãi.
   Trưng Vương ở ngôi được 3 năm thì nhà Đông Hán sai Mã Viện, đem 20 vạn quân sang xâm chiếm, báo thù. Trưng Vương liền cho triệu vợ chồng Hùng Bảo về kinh để mang quân cự chiến. Ông bà mang quan thẳng đến đất Đô Dương - Cửu Chân chiến đấu với quân Hán. Ông chém liền hơn 10 tướng giặc, song quân giặc quá đông, biết khó cự được nên ông bà phá vòng vây, chém liền mấy tướng giặc nữa rồi chạy về đất Chu Diên. Quân giặc đuổi theo, đến bến Tuyền Liệt, ông bà lao xuống sông tuẫn tiết.
   Thương mến và cảm phục vợ chồng người tướng tài giỏi, trung liệt, Trưng Nữ Vương và các đời vua sau này đều phong mỹ tự cho ông bà Hùng Bảo - Trần Nương. Phong cho Hùng Bảo là “ Uy linh hiển ứng thiên bảo hộ quốc đại vương”. Phong cho Trần Nương là “Ả Nương Hoàng công chuá đại vương linh phù chi thần”.
   Tưởng nhớ đến công lao to lớn của vợ chồng người tướng tài ba, trung liệt, nhân dân Phú Mỹ lập đình thờ hai vị, tôn Hùng Bảo làm Thành hoàng làng. Vào các dịp lễ tết, các ngày tuần tiết đều sắm sửa lễ nghi, đèn nhang thờ phụng.
   Đình Phú Mỹ toạ lạc trên gò đất cao ở trung tâm làng Phú Mỹ, xã Tự Lập. Đình quay hướng đông nam theo dòng chảy của sông Cà Lồ.
   Đình có mặt bằng bố cục như sau: ao đình - cổng trụ, sân, toà Đại đình. Hai bên toà Đại đình có 2 toà Tả vu, Hữu vu.
   Toà Đại đình có bố cục chữ “Đinh” kết cấu các vì theo kiểu thức chồng rường, giá chiêng. Các hệ thống vì được liên kết với nhau bởi các đại giằng là các xà thượng, xà trung, xà hạ. Các cột được tạo tác theo kiểu “Thượng thu, hạ thách” gồm 48 cột đều có hòn kê bằng đá.
   Về nghệ thuật trang trí, các nghệ nhân đã sử dụng triệt để các cấu kiện kiến trúc để thể hiện các hình tượng trang trí. Đó là điêu khắc trên các bức cốn, xà, đầu dư, kẻ, bẩy. Các tác phẩm điêu khắc bao gồm đề tài sinh hoạt của con người, các con vật, hoa, lá, vân mây.
   Các hình theo đề tài “Tứ linh” được tạo tác thành tượng tròn, bố trí trên các xà nách của hai gian bên.
   Đầu bẩy đình có chạm khắc đôi rồng cuốn nhưng đuôi kiểu cá chép, xung quanh hình đao, mác. Đầu dư là một tác phẩm được chạm lộng đầu rồng miệng ngậm ngọc. Bức chạm trên cốn bên trái gian giữa nổi lên hình một đôi rồng vờn nhau. Trên con rồng có một người cởi trần đóng khố đang trong tư thế chiến đấu với một con rồng khác.
   Phía trên bức cốn, ở góc phải là tác phẩm chạm khắc đề tài “Tam đa” tượng trưng là: con khỉ đang nhảy nhót, tay cầm quả đào; một con dơi đang bay; một con hươu đủng đỉnh đi, đầu ngoái lại. Bức chạm bên phải cũng thể hiện đôi rồng và người cởi trần đóng khố đang vươn mình nắm đuôi rồng, chân phải co lên đá.
   Bức cốn nách hai bên đối nhau qua gian giữa chạm cảnh một người cởi trần đóng khố đang múa với con rồng bằng tay trái, tay phải chống nách, hai chân choãi ở tư thế “đứng tấn” (cảnh múa rồng).
   Nhiều bức chạm hai gian chái còn có các đề tài thiên nhiên như hoa, lá, hình chuột, thỏ… và những con vật gần gũi với đời sống thường nhật của người nông dân.
   Mặc dù bia ký và niên đại tuyệt đối ghi chép thời gian xây dựng ngôi đình không còn. Nhưng qua nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc, nghệ thuật trang trí của ngôi đình, ta có thể đoán định rằng đình Phú Mỹ được xây dựng vào thế kỷ XVII. Đây là một di tích lịch sử - văn hoá quý giá mà cha ông ta để lại cho con cháu muôn đời sau.
   Đình Phú Mỹ đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1992.

Lịch sử Mê Linh

Địa lý hành chính huyện Mê Linh qua các thời kỳ lịch sử


Trong quá trình hình thành và phát triển, huyện Mê Linh có nhiều lần thay đổi địa lý hành chính: Trong địa giới hiện nay, huyện Mê Linh bao gồm huyện Yên Lãng và hai là Kim Hoa,
Trong quá trình hình thành và phát triển, huyện Mê Linh có nhiều lần thay đổi địa lý hành chính: Trong địa giới hiện nay, huyện Mê Linh bao gồm huyện Yên Lãng và hai là Kim Hoa, Quang Minh thuộc huyện Kim Anh tỉnh Phúc Yên cũ. Bản thân hai huyện này cũng có những xuất xứ ta đổi thay riêng của địa phương mình.
Huyện Mê Linh ngày nay được vinh dự mang một tên ra đời từ thời sơ sử. Từ năm 111.TCN đến năm 234.SCN, nhà Hán đô hộ nước ta, chia nước ta thành ba quận: Giao Cắt, dìu Chân, Nhật Nam.
Theo cách phân vừng địa lý của nhà Hán, dưới quận là huyện; phạm vi huyện tương đương phạm vi bộ của ta thời các vua Hùng dựng nước.
 Huyện Mê Linh thời thuộc Hán là bộ Văn Lang cũ (có bị thu hẹp một phần trong thời thục An Dương Vương) là địa bàn cư trú của các lạc tướng, lạc dân dòng dõi vua Hùng Phạm vi huyện này gồm một vùng rất rộng trải dài hai bên sông Hồng từ núi Ba Vì đến dãy Tam Đảo tương đương với tỉnh V nít Phúc. tỉnh Phú Thọ và miền Sơn Tây ngày nay.
"Mê Linh là một tên riêng mà lạc dân dùngđể gọi xứ sở của mình, là một thổ âm - có thể là tên thường gọi của bộ Văn Lang lúc bấy giờ - đại đũa âm kép Mang hay Mạnh mà người Hán đã phiên âm bằng chữ của họ, về sau ta đọc theo âm Hán -Việt thành ra Mê Linh ”
Địa danh Mê Linh tồn tại trong vòng 600 năm, đến thời nhà Tuỳ (TK.VI) thì không còn nữa: huyện Mê Linh bị chia thành hai huyện Gia Ninh và Tân Xương.
Huyện Yên Lãng: Đời nhà Hán là đất huyện Mê Linh, quận Gian Chỉ. Đời nhà Tề tách ra đặt làm huyện Bình Đạo; đời nhà Lương, nhà Tuỳ vẫn theo như thế. Đời nhà Đường ITK.VIII đổi làm châu Nam Đạo, sau lại đổi làm Tiên Châu. Đến thời đại phong kiến tự chủ nớc ta, từ nhà Đinh, nhà rền Lê trở đi đặt tên là Yên Lãng. Đời nhà Trần, huyện Yên Lãng thuộc châu Tam Đới, lộ Đông Đô. Đời nhà Hậu Lê, nhà Nguyên, huyện Yên Lãng thuộc phủ Tam Đới , trấn Sơn Tây. Từ năm 1832 đến năm 1890, huyện Yên Lãng hợp nhất với huyện Yên Lạc thành phân phủ V inh Tường, tỉnh Sơn Tây. Năm 1890, phân phủ Vinh Tường giải thể. phủ Yên Lãng trở lại là đơn vị riêng, tách khỏi tình Sơn Tây và nhập vào Vĩnh Yên. Năm 1901, lại tách khỏi tỉnh Vĩnh Yên và nhập vào tỉnh Phúc Yên.
Dưới chính thể Việt Nam Đân chủ Cộng hoà, từ tháng 8 năm 1945: phủ Yên Lãng đổi gọi là huyện Yên Lãng. Ngày 12-2-1950, hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên hợp nhất thành lĩnh Vmh Phúc. Huyện Yên Lãng thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
Huyện Kim Anh: Đời bên Lê. nằm trong châu Cổ Pháp. Đời Lý, nằm trong phủ Thiên Đức. Đời Trần năm trong huyện Đông Ngàn thuộc châu Vũ Ninh, lộ Bắc Giang. Đời Hậu Lê, Nguyễn Sơ là một phần của huyện Đông Ngàn thuộc phu Từ Sơn, trấn Kinh Bắc. Từ đời Lê Quang Thuận ( 1461-14691, một phân huyện Đông Ngàn được tách ra, đặt tên là Kim Hoa, thuộc phủ Bắc Hà, trấn Kinh Bắc. Năm 1841 (Thiệu Trị thứ nhấn, đổi tên là Kim Anh thuộc lỉnh Bắc Ninh. Thời Pháp thuộc, năm 1901, chính quyền thực dân Pháp thành lập tỉnh Phú Lỗ. Ngày 10- 12 – 1903,  tỉnh Phủ Lỗ đổi tên thành tỉnh Phức Yên: huyện Kim Anh thuộc về tỉnh mới này. Từ ngày 12- 2- 1950, huyện Kim Anh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc Tháng 3- 1968, thi hành Quyết định của Quốc hội và Chính phủ nước Việt Nam Đân chủ Cộng hoà, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phú. Hai huyện Yên Lãng và Kim Anh thuộc tỉnh Vĩnh Phú.
Theo Quyết định số 1781QĐ ngày 5-7- 1977, huyện Yên Lãng hợp nhất với huyện Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên thành huyện Mê Linh; huyện Kim Anh hợp nhất với huyện Đa Phúc thành huyện Sóc Sơn.
Nghị quyết kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá 6 và Thông báo số 13/TBTW ngày 14-12-1978 tách huyện Bình Xuyên về hợp nhất với huyện Tam Dương thành huyện Tam Đảo; chuyển huyện Mê Linh (chỉ còn huyện Yên Lãng và thị trấn Phúc Yên) về Thủ đô Hà Nội.
Theo Chi thị số 254/CT ngày 28-8-1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về chỉ đạo triển khai cụ thể việc chia tỉnh theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 Quốc hội Khoá VIII ngày 12-8-l991 về việc điều chỉnh địa giới hành chính của thành phố Hà Nội: "Kể từ ngày 16-10-1991, UBND tỉnh Vĩnh Phú  chính thức chỉ đạo mọi mặt, công tác ở huyện Mê Linh .
Nghị quyết kỳ họp thứ X Quốc hội khoá IX tháng 11 năm 1996 chia tỉnh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Bắt đầu từ ngày 1- 1- 1997,
huyện Mê Linh trờ lại trực thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
Như vậy, từ ngày 1-1-1997 đến ngày 9-12-2003 (thành lập thị xã Phức Yên và huyện Tam Đào ), huyện Mê Linh có 2 thị trấn và 22 là; trong số đó có 16 là thuộc huyện Yên Lãng cũ và 6 xã thuộc huyện Kừn Anh cũ. Cụ thể là:
2 thị trấn: Phúc Yên và Xuân Hoà.
16 xã thuộc huyện Yên Lãng cũ
- Chu Phan có 4 thôn: Chu Phan, Mạnh Trữ, Nại Châu Sa Khúc.
- Đại Thịnh có 3 thôn: Đại Báo. Nội Đồng. Thường Hoàng Kừn cò 3 thôn: Hoàng Kim. Hoàng Xá, Tây Xá
- Liên Mạc có 3 thôn: Bồng Mạc Xa Mạc: Yên Mạc.
- Mê Linh có 2 thôn: Hạ Lôi, Liêu Trì.
- Tam Đông có 3 thôn: Cư An, Nam Cường. Văn Tấn Thắng có 3 thôn: Bạch Trữ. Kim Gian. Thái Lai.
- Tiến Thịnh có 5 thôn: Kỳ Đồng, Thanh Điềm, rung Hà, Yên Lão Giáp. yên Lão Thị.
- Tlền Châu có 7 thôn: Đạm Nội, Đạm Xuyên, Kim Chàng Tân Lợi, Trên Non, Tlền Chân, Thịnh Kỷ.
- Tlền Phong có 3 thôn: Do Nhân, Trung Hậu, Yên Nhân.
- Tự Lập có 2 thôn Phú Mỹ. Yên Bài.
-Thạch Đà có 4 thôn: 1, 2, 3, 4.
- Thanh Lâm có 4 thôn: Lâm Hộ: Thanh Tước, Thanh Vân. lên Ninh.
- Tráng Việt có 3 thơn: Điệp Thơn, Đông Cao, Tráng Việt,Vạn Yên có 4 thôn: Gia Lô. Trên Đài. Vạn Phúc,Yên Nội.
- Văn Khê có 2 thôn: Khê Ngoại, Văn Quán.
6 xã thuộc huyện Kim Anh cũ:
- Cao Minh có 7 thôn: Cao Quang, Đức Cung, Hiển Lề, Xuân Hoà Hạ, Xuân Hoà Thượng, Yên Diềm, Yên Mỹ.
- Kim Hoa có 5 thôn: (Bạch Đa, Bảo Tháp, Kim Tlền. Ngọc Trì. Phù Trì.
- Nam Viêm có 2 thôn: Khả Do, Nam Viêm.
- Ngọc Thanh có 3 thôn: Ngọc Quang, Thanh Cao, Thanh Lộc.
- Phúc Thắng có 4 thôn: Đại Phùng, Nhức Khúc, Xuân Mai, Xuân Phương - Quang Minh có 4 thôn: Chi Đông, Gia Trung, Gia Thượng. Giai Lạc.
Thi hành Nghị định Chính Phủ số 153/2003/NĐ-CP ngày 9-12-2003 về việc thành lập thị xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc:
Huyện Mê Linh đã tách toàn bộ diện lích tự nhiên và dân số của thị trấn Phúc Yên, thị trấn Xuân Hoà và các xã Phúc Thắng, Tlền Châu, Nam Viêm, Cao Minh, Ngọc Thanh về thị xã Phúc Yên.
Huyện Mê Linh còn lại 14.095,74ha diện tích tự nhiên và l74.782 nhân khẩu; có 17 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã Chu Phan, Đại Thịnh Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Quang Minh, Tam Đồng, Tiến Thắng, Tiến Thịnh,Tiền Phong, Tự Lập, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tráng Việt, Vạn Yên, Văn Khê.